Tin nhanh

Khó huy động vốn nhưng không dám tăng mạnh lãi suất, nhiều ngân hàng tìm cách khuyến mãi.

 
Chưa đầy một tháng sau khi đồng thuận loại bỏ khuyến mãi và thống nhất lãi suất huy động, nhiều ngân đã phá rào “bơm” khuyến mãi cho khách hàng.

Lãi suất thực tăng

Thông báo mới nhất phát đi từ Ngân hàng Nhà nước cho biết, trên thị trường, lãi suất VND ít biến động so với tuần trước. Tuy nhiên, theo Ngân hàng Nhà nước, một số ngân hàng thương mại có chi nhánh vẫn áp dụng các hình thức khuyến mại như tặng tiền mặt, cộng thưởng lãi suất, tiết kiệm dự thưởng làm cho lãi suất huy động thực tế cao hơn so với mức niêm yết như Ngân hàng Kỹ thương, Quốc tế, Á Châu, Việt Á, Việt Nam Thương tín.

Thực tế, đa số ngân hàng đều tránh khuyến mãi trực tiếp bằng lãi suất. Nhưng những cách làm như tặng quà bằng tiền mặt, tặng thưởng… thực chất đều làm lãi suất tăng lên đáng kể. Ngân hàng Quốc tế (VIB) thực hiện tặng tiền trực tiếp cho khách hàng với mức tối đa một triệu đồng. Theo tính toán, chỉ cần gửi 100 triệu đồng, khách hàng sẽ nhận 1 triệu tiền thưởng. Với cách này, khách hàng gửi tiền ở VIB được tăng lãi suất thêm 1%.

Bạo tay hơn, Ngân hàng Á Châu (ACB), khách hàng gửi tiền sẽ được cộng thêm lãi suất lên tới 0,2%. Ngay ở kỳ hạn 3 tháng, mức lãi suất (đã bao gồm khuyến mại) mà khách hàng được hưởng có thể lên tới 11,7%.

Tuy nhiên, do lo sợ những ngưỡng cản về: đồng thuận lãi suất 11,5%, không được khuyến mãi tăng lãi suất… nên đa số các khoản khuyến mãi của ngân hàng đều làm khá âm thầm, không rầm rộ. Thậm chí, một số chi nhánh ngân hàng, do cần vốn nên dù không có chương trình khuyến mãi nào nhưng lại thực hiện cách làm thỏa thuận lãi suất với từng khách hàng để huy động vốn. Đây là cách làm rất hiệu quả, nhất là đối với những khách hàng lớn.

Giảm lãi suất: gạt qua một bên

Trong khi những yêu cầu về giảm lãi suất chưa được thực hiện thì lãi suất thị trường lại liên tục tăng. Lý giải điều này, giám đốc một ngân hàng cho biết, huy động vốn, nhất là vốn từ các DN hiện nay ở mức 11,5% là rất khó. Chính vì thế, nếu duy trì mức lãi suất như đồng thuận, ngân hàng sẽ bị giảm vốn đầu vào.

Trong khi đó, cạnh tranh giữa các ngân hàng hiện nay là rất lớn. Nếu không có cách để hút khách, ngân hàng sẽ bị thua trong cuộc chạy đua thu hút vốn của khách hàng cá nhân. Còn các DN, họ có nguồn tiền lớn, rất nhiều DN sẵn sàng mặc cả lãi suất cao để có vốn… Vì thế, tất cả đang bị cuốn vào cuộc đua lãi suất mới.

Giám đốc chi nhánh ngân hàng một cổ phần ở Hà Nội khá bi quan khi nhận định, đua lãi suất thế này, ngân hàng đang dồn nhau vào thế bí. Cạnh tranh những tháng cuối năm sẽ rất khó khăn. Thực tế này cho thấy, các ngân hàng đang lo nguồn vốn, lo thanh khoản. Việc giảm lãi suất đang bị dẹp sang một bên.

Từ thực tế này, muốn giảm lãi suất chỉ còn cách trông chờ vào vốn liên ngân hàng, tái cấp vốn giá rẻ từ Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, trong tình trạng khó khăn chung thế này, thị trường liên ngân hàng sẽ khó huy động và lãi suất cao hơn.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu cho biết, trước mắt, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiến hành kiểm tra ngay những ngân hàng thương mại nào có lãi suất huy động vượt quá 12%.

Việc NHNN khống chế NHTM không được vay tại thị trường liên ngân hàng quá 20% tổng huy động khiến thị trường liên ngân hàng giảm đi vai trò điều hoà nguồn vốn.

 
Báo cáo ngày 13.5 của ngân hàng Nhà nước thống kê hoạt động ngân hàng trong tuần lễ 29.4 – 6.5, lãi suất bình quân trên thị trường liên ngân hàng ở kỳ hạn ba tháng là 11,54%, 12 tháng là 12%, cao hơn lãi suất huy động (phổ biến 11 – 11,5%) ở thị trường dân cư.

Bất ngờ tăng?

Muốn giảm lãi suất, ngân hàng phải tìm nguồn vốn rẻ. Muốn giảm chênh lệch lãi suất giữa huy động và cho vay, ngân hàng phải cắt giảm chi phí. Một trong những cách để giảm chi phí và tìm nguồn vốn rẻ là tìm đến thị trường liên ngân hàng (thời gian gần đây, các thống kê của ngân hàng Nhà nước cho thấy lãi suất thị trường liên ngân hàng đã thấp hơn lãi suất huy động phổ biến trên thị trường dân cư).

Đối với ngân hàng cho vay, có thể dễ dàng cho vay ở thị trường này, có lợi nhuận, mà đỡ phải chi phí bộ máy tìm khách hàng, quản trị rủi ro khi cho vay trực tiếp khách hàng. Phần rủi ro này ngân hàng vay sẽ gánh chịu. Đối với ngân hàng vay, họ có thể tìm được nguồn vốn với giá rẻ, thậm chí rẻ hơn ở thị trường dân cư – nơi không phải dễ huy động.

Tuy nhiên, ngân hàng Nhà nước khống chế ngân hàng thương mại không được vay tại thị trường này quá 20% tổng huy động.

Ngày 28.4, ngân hàng Nhà nước thông tin cho biết, một số ngân hàng thương mại cổ phần đã thông qua một số quỹ đầu tư và công ty con của mình để cho vay dưới dạng tiền gửi mặc cả lãi suất đối với các ngân hàng khác.

Thông tin trên cho thấy, việc ấn định tỷ lệ 20%, khiến các ngân hàng thừa vốn không thể cho vay, và ngân hàng thiếu vốn không thể vay trên thị trường liên ngân hàng đã khiến các ngân hàng “lách” luật thông qua việc bơm vốn cho quỹ đầu tư và công ty con của mình để các đơn vị này gửi (cho vay) các ngân hàng khác. Và khi một phần nguồn cung “chạy” khỏi thị trường liên ngân hàng, thì lãi suất một số kỳ hạn tăng là dễ hiểu.

Giao dịch liên ngân hàng (Nguồn: SGTT - NHNN)

Dòng tiền tắt?

Việc ấn định tỷ lệ 20% là nhằm đảm bảo tránh rủi ro hệ thống. Tuy nhiên chính tỷ lệ này khiến thị trường liên ngân hàng giảm đi vai trò điều hoà nguồn vốn. Doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đã liên tục giảm trong ba tuần gần đây (biểu đồ). Và lãi suất ở một số kỳ hạn ba tháng, sáu tháng trong tuần lễ gần nhất có thống kê đã cao hơn cả lãi suất huy động ở thị trường dân cư.

Doanh số giảm, và lãi suất cao có thể thể hiện thị trường liên ngân hàng chưa phát huy hết vai trò điều hoà cung cầu vốn. Tổng giám đốc một ngân hàng thương mại có nguồn vốn lớn thường xuyên cho vay trên thị trường liên ngân hàng cho rằng, ngân hàng Nhà nước “bóp” thị trường liên ngân hàng có thể khiến nguồn vốn không được khơi thông, và lãi suất khó giảm.

Trái lại, một chuyên gia ngân hàng lại cho rằng, thị trường liên ngân hàng không thể lạm dụng, nếu ngân hàng vay quá nhiều ở thị trường này để cho vay, chứng tỏ hoạt động của ngân hàng kém.

Và ngân hàng thừa vốn dĩ nhiên thích cho vay ở thị trường này và “sống trên lưng” những ngân hàng khác, không là một hiện tượng của thị trường lành mạnh.

Việc hạn chế giao dịch ở thị trường liên ngân hàng sẽ buộc ngân hàng thừa vốn phải tìm khách hàng cho vay trực tiếp, và qua đó, lãi suất có thể giảm xuống. Còn ngân hàng thiếu vốn, phải cải thiện hình ảnh của mình để có thể huy động được vốn rẻ từ dân cư.

Vấn đề là phải làm sao để dòng tiền không “chạy” như báo cáo ngày 28.4 kể trên của ngân hàng Nhà nước.

SCB tăng lãi suất huy động USD đối với cá nhân và EUR đối với cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp; kỳ hạn tăng từ 1 tháng đến 60 tháng, với biên độ tăng từ 0,2% đến 0,6%/năm.

 
Theo công bố từ Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB), từ 2/4 SCB sẽ tăng lãi suất huy động USD, EUR kỳ hạn tăng từ 1 tháng đến 60 tháng, với biên độ tăng từ 0,2% đến 0,6%/năm.

Theo đó, lãi suất huy động USD kỳ hạn 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 tháng lần lượt là: 4%, 4,3%, 4,5%, 4,55%, 4,6%, 4,65%, 4,7%, 4,75%, 4,8%, 4,9%, 4,95%/năm; kỳ hạn từ 12 tháng đến 60 tháng là 5%/năm

Lãi suất huy động EUR kỳ hạn 1, 2, 3, 6, 9 tháng lần lượt là: 3,35%, 3,5%, 3,8%, 4%, 4,1%/năm; kỳ hạn từ 12 tháng đến 60 tháng là 4,2%/năm.

Theo thống kê tuầm mới nhất từ Ngân hàng Nhà nước, mức lãi suất huy động USD của khối NHTMCP kỳ hạn trên 12 tháng 3,8%-4,8%. Mức lãi suất 5%/năm với kỳ hạn trên 12 tháng của SCB đang cao hơn mức trung bình của khối này 0,2%/năm.

Thống kê mới đây của Bộ Tài chính cho biết, tổng số thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đã được miễn theo Nghị quyết của Quốc hội và Thông tư của Bộ Tài chính vào khoảng 5.500 tỷ đồng.

Số tiền này ở lại trong dân cư đã được đưa vào đầu tư, mua sắm... là nguồn vốn lớn góp phần thúc đẩy phát triển thị trường và phục hồi kinh tế.

Bên canh đó,  Tổng cục Thuế cho biết, đến hết tháng 8/2009,  ngành thuế đã tạm hoàn  thuế cho 1.760 hồ sơ với số tiền thuế giá trị gia tăng đã tạm hoàn là 3.195,5 tỷ đồng. 

Bộ Tài chính nhận định, các biện pháp hoàn, miễn, giảm, gia hạn nộp thuế đã góp phần kích cầu đầu tư và tiêu dùng, tháo gỡ khó khăn và tác động tích cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Số thuế được hoàn, miễn, giảm và gia hạn nộp đã giúp người nộp thuế giảm thiểu khó khăn về vốn, nhiều doanh nghiệp đã tận dụng tốt số tiền thuế được giảm, giãn để duy trì hoạt động, đảm bảo việc làm, thu nhập cho người lao động.


Thép có sàn giao dịch (17/11/09 | 08:28)

Sau cà phê, giờ đây đến lượt sản phẩm thép đã đưa lên sàn giao dịch hàng hóa. Nhiều người kỳ vọng bằng phương thức giao dịch mới sẽ giúp các mặt hàng trên được mua bán minh bạch và thuận tiện hơn so với thói quen kinh doanh truyền thống lâu nay.

Thép đã đưa lên sàn giao dịch. Trong ảnh: sản xuất thép xây dựng tại Nhà máy thép Phú Mỹ - Ảnh: T.T.D.

Ra mắt hôm 5-11, sàn giao dịch hàng hóa Thương Tín (Sacom -STE) trực thuộc Tập đoàn Sacombank, đã chọn sản phẩm thép trong lĩnh vực xây dựng và công nghiệp đưa lên sàn giao dịch với quy trình và thủ tục chẳng khác gì mua chứng khoán.

Trên 100 doanh nghiệp tham gia

"Xu hướng đưa các loại sản phẩm quan trọng trong cuộc sống lên sàn giao dịch là khó tránh khỏi. Vấn đề là làm sao tìm được mô hình hài hòa, phù hợp với đặc điểm kinh doanh của giới doanh nghiệp, nhà kinh doanh nhỏ lẻ lẫn tổ chức đầu tư có quy mô lớn"

Ông Phạm Chí Cường
(chủ tịch Hiệp hội Thép VN)

Với hai phương thức giao dịch khớp lệnh và thỏa thuận, các lệnh mua (hoặc bán) thép được đưa lên sàn giao dịch hàng hóa với giá tham chiếu là giá đóng cửa của phiên giao dịch gần nhất, đơn vị giao dịch tối thiểu là 5 tấn, phí giao dịch 20 đồng/kg (khi thực hiện giao dịch mua hoặc bán), phí kiểm định 4 triệu đồng/lô (dưới 500 tấn).

Ông Nguyễn Thế Vinh, chủ tịch HĐQT Sacom - STE, cho biết ước có 100 doanh nghiệp đăng ký tham gia giao dịch thử nghiệm trong thời gian chờ đến khi sàn giao dịch chính thức vào tháng 12-2009. Đến thời điểm này vẫn khó có thể khẳng định sàn giao dịch thép có hấp dẫn giới kinh doanh hay không bởi tất cả vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm.

Trong khi đó với cà phê, dù đã gần một năm trôi qua kể từ khi chính thức được thành lập (tháng 12-2008), sàn giao dịch cà phê vẫn đang hoạt động như trong quá trình khởi động. Mọi giao dịch mua - bán cà phê đều được thực hiện bằng phương thức khớp lệnh điện tử với sự cung cấp dịch vụ từ Ngân hàng Techcombank, Cà phê control (chuyên về giám định cà phê), Công ty cổ phần cà phê An Giang. Tất cả đều dưới sự quản lý của Sở Công thương Đắc Lắc.

Ông Võ Thanh Châu, phó giám đốc Trung tâm Giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột, cho biết đến nay toàn sàn mới chỉ có 34 thành viên, trong đó có 17 doanh nghiệp và 17 hộ nông dân. Con số này khá khiêm tốn so với hàng trăm doanh nghiệp kinh doanh cà phê và hàng ngàn hộ nông dân kinh doanh cà phê trên địa bàn tỉnh Đắc Lắc. Theo ông Châu, gần một năm qua sản lượng cà phê giao dịch qua sàn mới chỉ đạt vỏn vẹn 100 tấn. Trong khi sản lượng cà phê của Đắc Lắc đạt khoảng 400.000 tấn/năm.

Tập quán khó thay đổi?

Theo ông Đỗ Duy Thái, tổng giám đốc Công ty thép Việt, với hình thức mua đứt bán đoạn đang áp dụng trong hệ thống phân phối hiện tại của ngành thép, việc thay đổi cách thức mua bán mới cần phải có thời gian thích nghi.

Phân tích khía cạnh ưu điểm nếu chọn phương thức giao dịch trên sàn, ông Thái cho rằng mô hình sàn giao dịch phù hợp cho những đại lý/nhà phân phối nào có tiềm lực tài chính yếu vì ngân hàng có thể cung cấp các dịch vụ tài chính phù hợp với loại hình hợp đồng tương lai từ T+1 đến T+5 (tháng) với mức ký quỹ chỉ mất 1.000-3.000 đồng/kg hàng hóa, trong khi thời gian thanh toán thông thường hiện tại chỉ là một tháng.

Tuy nhiên, một số chuyên gia lại cho rằng sàn giao dịch sẽ khó lòng cạnh tranh với các đại lý về khoản dịch vụ (chuyên chở hàng hóa, giá cả linh hoạt...) vốn phù hợp với nhu cầu mua bán nhỏ lẻ hiện chiếm đa số.

Ông Nguyễn Hoàng Dũng, ngụ đường Nguyễn Thái Bình (Q.1, TP.HCM), cho biết: “mua chả bao nhiêu mà phải đăng ký mở tài khoản, rồi lên kho của sàn nhận hàng, sau đó thuê xe chở về rắc rối quá!”.

Trong khi đó lý giải vì sao sàn giao dịch cà phê kém sôi động, dù 80% sản lượng cà phê của tỉnh Đắc Lắc nằm trong tay nông dân, ông Võ Thanh Châu cho hay tập quán mua - bán theo phương thức truyền thống vẫn còn rất sâu đậm trong cách làm của nông dân.

Thu hoạch xong nông dân chỉ cần bốc điện thoại lên là có các đại lý đến tận nơi thu mua chứ không cần phải mất công vận chuyển. Chưa kể ngay từ đầu vụ nông dân đã được cung ứng vật tư, phân bón, đỡ một phần chi phí đầu tư.

Mặt khác, các thủ tục lên sàn còn khá rắc rối. Sẽ rất khó khi nông dân phải tự đăng ký, mở tài khoản, phân loại, ký gửi, đặt lệnh, khớp lệnh... vì đa số đều chưa được tiếp cận giao dịch điện tử.

Để tăng tính hiệu quả cho sàn giao dịch cà phê, ông Châu cho hay Trung tâm Giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột sẽ hỗ trợ việc vận chuyển hàng cho nông dân. Trước mắt, trung tâm đã có ý tưởng sẽ thành lập các kho vệ tinh để rút ngắn quãng đường, thời gian vận chuyển.

Ngoài ra, đơn vị này cũng sẽ tăng cường công tác tuyên truyền đến nông dân để họ hiểu được lợi ích khi tham gia sàn giao dịch cà phê. Song song đó, các nhân viên trung tâm sẽ hỗ trợ bà con khi đến đăng ký thành viên, ký gửi và đặt lệnh bán.


Ngày 10/11, HNX đã nhận được hồ sơ đăng ký niêm yết 4 triệu cổ phiếu của CTCP Xuất Nhập khẩu Khoáng sản Hà Nam.

 

CTCP Xuất Nhập khẩu Khoáng sản Hà Nam có vốn điều lệ 40 tỷ đồng, với cổ đông trong công ty nắm 60,38% cổ phần và cổ đông ngoài công ty nắm 39,62%.

Công ty có trụ sở chính tại Khu Công nghiệp Châu Sơn, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Ngành nghề kinh doanh của công ty là Thăm dò khai thác chế biến kinh doanh xuất nhập khẩu khoáng sản và hóa chất; Sản xuất mua bán; thực phẩm nông sản, vật liệu xây dựng, hàng nội thất công trình…

Nhiều doanh nghiệp trở lại huy động vốn qua kênh trái phiếu nhất là trong điều kiện vốn huy động từ ngân hàng trở nên khó khăn.

 

Hiện các ngân hàng thương mại chính là đối tượng nhà đầu tư chủ yếu lại vừa là đơn vị tư vấn phát hành.

Thông qua phát hành trái phiếu, doanh nghiệp có thể huy động được nguồn vốn trung và dài hạn có lãi suất thấp hơn lãi suất vay ngân hàng, huy động được nguồn vốn lớn mà ngân hàng khó đáp ứng. Lợi thế của doanh nghiệp khi phát hành trái phiếu là lãi suất cạnh tranh mà không vướng trần lãi suất quy định như trái phiếu Chính phủ.

Chằng hạn, đầu năm 2009, Công ty Tài chính cổ phần Điện lực (Tập đoàn Điện lực Việt Nam - EVN) công bố phát hành thành công trái phiếu EVN với giá trị 500 tỷ đồng. Trái phiếu EVN có thời hạn 5 năm, lãi suất trả sau hàng năm và được tính trên cơ sở bằng lãi suất tham chiếu cộng lãi biên (lãi suất thả nôi).

Vừa qua FPT phát hành 1.800 trái phiếu mệnh giá 1 tỷ đồng tương đương tổng trị giá phát hành 1.800 tỷ đồng với lãi suất 7%/năm. Đây là loại trái phiếu có kèm chứng quyền và không có đảm bảo kỳ hạn 3 năm, phát hành ngày 9/10/2009 và sẽ đáo hạn vào 9/10/2012.

Các trái phiếu phát hành trong thời gian gần đây đều có lãi suất coupon cao hơn lãi suất cho vay tối đa. Chẳng hạn, trái phiếu Tổng Công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị (HUD) phát hành ngày 30/9/2009, kỳ hạn 3 năm, có lãi suất năm đầu 12,5%, lãi suất các năm sau bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng cộng biên độ 3,8%/năm.

Đáng chú ý, đối tượng nhà đầu tư chủ yếu ở đây là ngân hàng thương mại, cũng chính là đơn vị tư vấn phát hành trái phiếu. Thực tế, các ngân hàng cũng muốn tránh việc vượt giới hạn tăng trưởng tín dụng trong năm nay.

Việc đầu tư trái phiếu doanh nghiệp không chỉ giúp ngân hàng thương mại duy trì quan hệ với khách hàng truyền thống mà còn đem lại thu nhập cao cho ngân hàng. Bình quân chênh lệch giữa lãi suất trái phiếu doanh nghiệp và lãi suất cho vay hiện nay khoảng 2,5-3%/năm.

Ngoài thu nhập từ lãi trái phiếu, các ngân hàng thương mại còn thu được phí từ việc cung ứng dịch vụ tư vấn, bảo lãnh phát hành trái phiếu và các dịch vụ liên quan khác.

Tuy nhiên, so với trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có mức độ rủi ro cao hơn (rủi ro thanh toán, rủi ro lãi suất…), đặc biệt là đối với loại trái phiếu bất động sản, trái phiếu không có bảo đảm bằng bảo lãnh thanh toán hay tài sản đảm bảo.

Theo ông Đỗ Ngọc Quỳnh, Tổng thư ký Hiệp hội Trái phiếu Việt Nam (VMBA), sắp tới VMBA sẽ cung cấp các dịch vụ của bên thứ ba giống như các công ty định mức tín nhiệm, là cầu nối trung gian giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư, như định giá trái phiếu, quản lý rủi ro đầu tư…


Không hẳn "vướng" về mặt pháp lý khi làm thủ tục phát hành cổ phiếu ra công chúng hoặc cho cổ đông hiện hữu, đôi khi, chỉ là DN muốn tìm một người chủ đúng nghĩa, sẵn sàng đồng hành với DN để vượt qua các khó khăn, thử thách. Song trên thực tế, việc tìm kiếm đối tác chiến lược của DN vẫn khá gian truân.

Trong dự thảo Nghị định về việc chào bán cổ phần riêng lẻ, đối tác chiến lược được hiểu là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có năng lực tài chính, quản trị DN; chuyển giao công nghệ mới, cung ứng nguyên vật liệu, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm; gắn bó lợi ích lâu dài với DN. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn và tùy thuộc điều kiện cụ thể, điều kiện cổ đông chiến lược lại khá linh hoạt.

Từ cuối năm 2008, trước diễn biến tình hình kinh tế chung, giá ô tô giảm mạnh, kết hợp với chiến lược tập trung phát triển ngành nghề cốt lõi, lãnh đạo Vinasun đã đặt mục tiêu tăng đầu tư mạnh vào việc mua xe taxi (đến 2010 tăng thêm hơn 1.400 xe). Tuy nhiên, mua sắm lượng xe lớn là bài toán không đơn giản, cả về nguồn vốn cũng như xây dựng chiến lược phát triển. Tìm nguồn vốn ở đâu ra, nhất là khi thị trường chứng khoán đang suy giảm mạnh (về đáy đầu năm 2009), cổ đông không sẵn sàng bỏ thêm vốn mới, vay vốn từ ngân hàng cũng chỉ có giới hạn. Chính vì vậy, tìm kiếm đối tác chiến lược là một trong những hướng ưu tiên lựa chọn của Công ty. Ông Trần Anh Minh, Phó tổng giám đốc Vinasun chia sẻ: thời điểm lấy ý kiến cổ đông xin phát hành, giá cổ phiếu chỉ là 34.700 đồng, do đó, việc đưa ra mức giá phát hành riêng lẻ không dưới 40.000 đồng/cổ phiếu quả là điều không đơn giản. Nếu bán giá thấp hơn, mục tiêu huy động vốn đủ cho việc đầu tư xe không thành, cổ đông hiện hữu có thể bị thiệt thòi, nhưng bán giá cao thì ai mua?

Áp lực điều chỉnh chiến lược phát triển phù hợp và chứng minh tính hiệu quả của Công ty được đặt lên vai của các thành viên HĐQT, Ban giám đốc. Ông Minh cho hay, một trong những quyết định khiến họ đau đầu nhất lúc bấy giờ là phải bán mảnh đất ở Thủ Khoa Huân để chủ động nguồn vốn, bởi nếu việc huy động vốn chậm, họ có thể bị lỡ cơ hội đầu tư mua xe với giá thấp. "Đây là mảnh đất đẹp, là tâm huyết của Ban lãnh đạo Công ty, nếu bán đi chắc sẽ khó lòng mua lại được. Nhưng, vì mục tiêu phát triển dài hạn theo đúng chiến lược, chúng tôi vẫn phải ‘lên dây cót’ quyết tâm để làm", ông Minh nói.

Ngược lại, có không ít trường hợp, để được là cổ đông chiến lược cho đợt phát hành riêng lẻ, NĐT lại phải trải qua khá nhiều khó khăn và thử thách cũng như sự kiên trì. Theo chân một NĐT chuyên "đại chúng hóa" các DN (xin gọi tắt là T.) và làm cầu nối nhà đầu tư chiến lược cho các tổ chức, người viết mới thực thấy những vất vả và công sức của người "khai phá" tiềm năng DN. NĐT này đã chia sẻ rằng, thương vụ mới thành công là kết quả của 5 năm giữ quan hệ bạn bè và tư vấn hỗ trợ tài chính miễn phí cho DN, cùng khoảng 6 tháng gần nhất làm thủ tục, trở thành cổ đông của DN. Để trở thành cổ đông chính thức, bản thân anh cùng các cổ đông chiến lược khác cũng phải đau đầu cùng DN giải quyết nhiều khó khăn, thậm chí là tìm kiếm công nghệ mới và nghĩ hướng đầu ra cho sản phẩm.

Năm 2009, có trường hợp, anh T. phải mất hơn 6 tháng bay đi bay lại liên tục giữa TP. HCM và Hà Nội để thuyết phục một DN thực hiện đại chúng hóa. Anh kể rằng, DN vốn điều lệ 35 tỷ đồng, mỗi năm thu lời 60 tỷ đồng nên khi nói đến ý định bán cổ phiếu ra công chúng, họ từ chối thẳng thừng. Sau nửa năm đi lại, tìm hiểu, thuyết phục  DN về tiềm năng thị trường, dù tăng vốn điều lệ lên vài trăm tỷ đồng thì vẫn không hết việc làm và vẫn đảm bảo tỷ suất sinh lời cao. Một bài toán phân tích thiệt hơn giữa việc tăng vốn, phát hành ra công chúng để cổ đông cũ có thể nâng số tài sản lên cả nghìn tỷ đồng và mang lại lợi ích cho các cổ đông mới, giúp DN có thêm tiềm lực tài chính để triển khai hết các dự án thay vì đôi khi phải "bán cái" hay giữ DN cho riêng mình, thu lời vài chục tỷ mỗi năm đã được anh đặt ra với lãnh đạo DN. Và đây chính là điểm nhấn cuối cùng khi bản thân anh gần như không còn hy vọng: 2 tuần sau, DN đồng ý. Bản thân DN này, sau khi chấp nhận đại chúng hóa cũng đã từ chối đề nghị làm "cổ đông chiến lược" của một CTCK có tên tuổi. Lãnh đạo DN bộc bạch: nếu họ tâm huyết như anh T. thì Công ty cũng vui vẻ nhận lời, nhưng sẽ không bao giờ Công ty muốn nhận một đối tác chiến lược chỉ đến để mua cổ phiếu với hy vọng kiếm lời sau thời hạn phong tỏa. Thực tế, cả hai DN mà anh T nỗ lực “đại chúng hoá” đều đang trong giai đoạn chuẩn bị niêm yết trên HOSE.

Thế mới thấy, công cuộc để mỗi bên tìm được cho mình một "đối tác chiến lược" thực thụ không phải dễ. Những lãnh đạo DN tâm huyết vẫn đang cần lắm một NĐT chiến lược cho riêng mình, nhưng, bao nhiêu DN có may mắn tìm một đối tác như vậy, xem ra, vẫn còn là câu hỏi khó tìm lời giải đáp.


Theo dự thảo, phí quản lý thành viên giao dịch được áp dụng 50 triệu đồng/năm đối với CTCK và 20 triệu đồng/tháng đối ngân hàng thương mại.

 

Bộ Tài chính thông báo lấy ý kiến Thông tư quy định mức thu, chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng phí hoạt động chứng khoán áp dụng tại các Sở Giao dịch chứng khoán (SGDCK) và Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD).

Theo dự thảo, phí quản lý thành viên giao dịch được áp dụng 50 triệu đồng/năm đối với CTCK và 20 triệu đồng/tháng đối ngân hàng thương mại. Phí đăng ký niêm yết lần đầu là 10 triệu đồng/DN, phí cấp phép niêm yết bổ sung 5 triệu đồng/lần. Phí quản lý niêm yết hàng năm đối với giá trị niêm yết dưới 100 tỷ đồng là 15 triệu đồng, từ 100 đến 500 tỷ đồng là 20 triệu đồng, giá trị niêm yết từ 500 tỷ đồng trở lên, phí niêm yết là 20 triệu + 0,001% giá trị niêm yết nhưng không quá 50 triệu đồng/DN.

Về lưu ký, phí quản lý thành viên là 40 triệu đồng/năm. Phí đăng ký chứng khoán lần đầu giá trị dưới 80 tỷ đồng là 10 triệu đồng, từ 80 đến 200 tỷ đồng là 15 triệu đồng; trên 200 tỷ đồng là 20 triệu đồng. Phí đăng ký chứng khoán bổ sung là 5 triệu đồng/lần.


Chứng khoán châu Á đã tăng điểm trong tuần này do lợi nhuận của các công ty thuộc ngành bất động sản của Hồng Kông phát tiển tốt sau khi có thông tin Trung Quốc sẽ tiếp tục duy trì các chương trình kích thích nhu cầu tiêu dùng của người dân, trong khi đó, cổ phiếu của các công ty thuộc các ngành công nghiệp liên quan lại giảm điểm.

 

Cổ phiếu của công ty Cheung Kong Holdings, công ty bất động sản lớn thứ II của Hồng Kông, tăng 6%. Cổ phiếu của Wesfarmer, công ty bán lẻ chiếm vị trí tứ II tại Úc, đã tăng 8,5% nhờ doanh số bán các mặt hàng thực phẩm và rượu tăng. Cổ phiếu của công ty China Telecom, hãng điện thoại cố định lớn nhất Trung Quốc, giảm 4% trên sàn giao dịch Hồng Kông do mức lợi nhuận của công ty này đã khiến các nhà đầu tư thất vọng, trong khi đó, cổ phiếu của hãng LG Display giảm 1,6% trên sàn giao dịch Seoul.

 

Chỉ số MSCI châu Á Thái Bình Dương giảm 2,6%, đạt mức 121,62 điểm trong tuần này. Chỉ số này đã tăng 69 lần tính từ mức điểm thấp nhất trong vòng 5 năm qua đạt vào ngày 9 tháng 3 năm năm sau khi nền kinh tế tăng trưởng tốt hơn so với mức dự báo và các báo cáo lợi nhuận tăng đã mang lại niềm lạc quan nền kinh tế toàn cầu đang dần thoát khỏi cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất kể từ sau thế chiến thứ II.

|<< << 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 ... >> >>|